Thứ Năm, 31 tháng 12, 2015

Việc đọc (2015)

Do không có thói quen ghi nhận lại việc đọc sách của bản thân (sẽ thay đổi trong năm nay) nên tôi không chắc chắn về số lượng sách và những đầu sách đã xem trong năm 2015. Nhưng theo ký ức, có vài thứ cần ghi nhận lại về việc đọc sách trong năm rồi để ghi nhớ và cải thiện dần trong những năm sau:

- Quyển sách đọc đầu tiên: Chiếc Lexus và cây oliu (Thomas Friedman) - NXB Khoa học xã hội 2009.
- Quyển sách đọc cuối cùng: Hương quê - Tây đầu đỏ và một số truyện ngắn khác (Sơn Nam) - NXB Trẻ 2006.
- Quyển sách dày nhất đã đọc: Suối nguồn (Ayn Rand) - 1174 trang - NXB Trẻ 2010.
- Quyển sách mỏng nhất đã đọc (và đọc nhanh nhất, trong chưa đầy 1h): Để thành nhà văn (Thu Giang Nguyễn Duy Cần) - 96 trang - NXB Trẻ 2013.
- Quyển sách xem thấy bổ ích nhất: Tôi tự học (Thu Giang Nguyễn Duy Cần) - NXB Thanh niên 1999.
- Quyển sách đọc thú nhất: Sống đẹp (Lâm Ngữ Đường, bản dịch Nguyễn Hiến Lê) - NXB Văn hóa 1999.
- Quyển sách gợi nhiều điều nhất cho nhân sinh quan và thế giới quan: Hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Nguyễn Hiến Lê) - NXB Văn học 2011 (xem thêm một số chương bị lược bỏ trên mạng).
- Quyển sách đọc nhưng chưa hiểu nhất: Quân vương - Thuật cai trị (Machiavelli) - Alphabooks 2014.
- Quyển sách xem chưa xong và thấy bất lực nhất: Kinh Thi (Nguyễn Khắc Hiếu, Nghiêm Thượng Văn, Đặng Đức Tô dịch và chú) - NXB TPHCM 1992.
- Tác giả được ghi nhận: Cao Tự Thanh (với quyển sách Nho giáo ở Gia Định và một số bài viết trên page Tầm Dương).
- Và quyển sách đang xem (sẽ là quyển sách đầu tiên của năm sau): Truyện Kiều - NXB Trẻ 2015 (ấn bản kỉ niệm 250 năm năm sinh đại thi hào Nguyễn Du).

Bình: Nhìn chung, sách xem trong năm vừa rồi toàn là sách đã phổ biến, chưa có điểm nhấn và không có tính hệ thống. Điều đó chưa giúp được gì cho sự hệ thống tư duy, nếu không muốn nói là làm rối rắm thêm. Thực sự là những ngày cuối năm, bản thân cực kỳ bối rối, mất định hướng khi những giá trị bản thân từ xưa đến nay dần thay đổi, không còn ranh giới giữa trắng/đúng/nên và đen/sai/không nên.

Giải: Đọc sách là một phương pháp tự học, muốn không rơi vào sự hỗn loạn cần phải có một kế hoạch cụ thể và chi tiết. Ngoài ra, "thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý"; xem sách phải tiếp thu đặng cái ý từ sách, cái lối học tầm chương trích cú đã cũ kĩ. Để đặng điều ấy, khi xem sách, xem tới đâu, chú tới ấy, chỗ nào đã rõ thì diễn ra bằng ngôn từ của bản thân, chỗ nào chưa thấu, ghi chép lại tiện việc tra cứu sau này đễ rõ hơn. Vài dòng nhưng không đơn giản để thực hiện trọn vẹn.

Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2015

8 tính cách của người có giáo dục

Thế nào là người có giáo dục? Nhiều khi “vô học” lại là những kẻ chữ nghĩa đầy mình, cũng như những người nông dân ít học lại vô cùng sáng suốt và tinh tế…Liệu người ngày xưa và ngày nay có hiểu khái niệm “con người có giáo dục” khác nhau không, hãy xem qua câu chuyện cách đây gần một thế kỷ rưỡi này…

Anton Chekhov (1860-1904) –nhà văn và tác giả kịch vĩ đại người Nga-đã để lại 900 tác phẩm đủ các thể loại, nhưng trong cuộc sống ông còn dạy chúng ta nhiều điều hơn trong các tác phẩm của mình.

Ông có người em ruột Nicolai là một họa sỹ đầy tài năng, nhưng tiếc thay lại không có bản lĩnh và suốt đời say rượu. Ông rất hiểu, rất thương và buồn cho cách người em coi thường chính khả năng trời phú của mình. Và ông không có cách nào hơn, là viết cho Nicolai một bức thư, mà đến nay chúng ta đọc lại cũng sẽ tìm được cho mình khá nhiều điều bổ ích…

“Matxcơva 1886

“Em thường than thở với anh là “Người ta chẳng hiểu em!” Đến Niutơn và Gớt còn chẳng than thở về điều đó…Người ta hiểu em rất rõ! Nếu người khác không hiểu em, thì đó không phải lỗi của mọi người…

Là một người thân và gần gũi với em, anh có thể khẳng định rằng anh rất hiểu và đồng cảm với em…Anh biết tất cả mọi tính tốt của em, như năm ngón tay của bàn tay mình vậy, đánh giá rất cao và kính nể chúng. Nếu để chứng minh rằng anh hiểu và đánh giá cao chúng thì anh thậm chí có thể liệt kê chúng ra đây. Theo anh thì em tốt bụng đến mức quá đà, rất rộng lượng, dễ tính, thương người, thương yêu súc vật, không đểu giả, không thù dai, tin người…Em gặp may hơn rất nhiều người: trời cho em tài năng! Tài năng đặt em lên trên hàng triệu người, vì cứ hai triệu người mới có một họa sỹ tài năng…

Tài năng đặt em vào một vị thế đặc biệt: em có là con cóc hay con nhện độc, thì mọi người vẫn tôn sùng em, vì tài năng được bỏ qua, tha thứ tất cả. Em chỉ có một điểm yếu duy nhất. Nó là nguyên lý sai lầm của em, của nỗi khổ của em, của chứng viêm loét dạ dày của em. Đó chính là tính vô giáo dục đến cực điểm của em! Xin tha lỗi cho anh, nhưng veritas magis amicitiae (chân lý cao hơn tình bạn)…Bởi vì cuộc sống có những điều kiện của nó…Muốn cảm thấy thoải mái trong môi trường trí thức, không trở nên lạc lõng ở đó và không cảm thấy nặng nề thì cần phải được giáo dục một cách căn bản…Tài năng đưa em vào môi trường đó, em thuộc về đẳng cấp đó, thế nhưng…em bị lôi kéo khỏi nó, và em cứ phải tìm cách cân bằng giữa tầng lớp văn minh và những người vis-a-vis (đối nghịch). Dễ thấy ảnh hưởng của thói tiểu tư sản thành thị, rượu chè, bố thí…Thật khó mà vượt qua được điều đó, quả thật rất khó!

Những người có giáo dục cần phải thỏa mãn những điều kiện sau:

Họ trân trọng cá tính con người, vì vậy luôn độ lượng, nhẹ nhàng, lịch thiệp, nhường nhịn… Họ không nổi đóa lên vì một cái búa hay chiếc tẩy bị mất; sống với ai họ chẳng lấy đó là sự làm ơn, còn khi ra đi không nói rằng: tôi không thể sống với cô (anh) được! Họ bỏ qua những chuyện ầm ĩ, lúc lạnh lùng, miếng thịt rán quá lửa, những câu châm chọc, sự có mặt của người lạ trong căn nhà mình…

Họ có lòng trắc ẩn không chỉ với những người ăn mày hay những con mèo. Tâm hồn họ đau đáu cả với những điều mắt thường không trông thấy được…

Họ tôn trọng tài sản của người khác, và vì vậy luôn trả hết các khoản nợ.

Họ trung thực và sợ sự dối trá như sợ lửa. Họ không nói sai cả trong những điều vặt vãnh. Nói dối là xúc phạm người nghe và hạ thấp người nói trong con mắt người nghe. Họ không phô trương, hành xử ở nơi công cộng cũng như ở nhà, không phỉnh phờ lớp người trẻ tuổi… Họ không ba hoa, không giãi bày tâm sự những khi không được hỏi đến. Vì tôn trọng những lỗ tai người khác, họ thường im lặng.

Họ không tự hủy diệt mình với mục địch để gợi dậy nơi kẻ khác sự thương cảm và giúp đỡ. Họ không khơi gợi lòng trắc ẩn của người khác để nhận lại sự cảm thông và chăm sóc. Họ chẳng nói: Người ta không hiểu tôi!…

Họ không phù phiếm. Họ chẳng quan tâm đến những trò hư vinh, như việc quen biết các nhân vật danh tiếng, lời thán phục của đám người gặp ở salon, sự nổi tiếng nơi quán rượu…

Nếu họ có tài năng, thì họ biết trân trọng nó. Vì nó, họ hi sinh thời gian, đàn bà, rượu chè, những việc lăng nhăng…

Họ phát triển nơi mình khả năng thẩm mĩ. Họ không thể mặc nguyên áo quần mà ngủ, không thể nhìn thấy những khe nứt đầy rệp trên tường, hít thở không khí nặng mùi, bước trên sàn nhà toàn vết nhổ, ăn uống ngay từ trên bếp dầu. Họ cố gắng có thể chế ngự và hoàn thiện bản năng tính dục. Những người có giáo dục trong vấn đề này không nặng về bếp núc. Họ cần ở đàn bà không phải chuyện giường chiếu, không phải mồ hôi ngựa, không phải đầu óc thể hiện khả năng gạt gẫm giả vờ có thai và nói dối không biết mệt… Họ, đặc biệt là những họa sĩ, cần sự tươi mới, tao nhã, tính người. Họ không tham lam bạ đâu uống đấy, không đánh hơi các loại tủ, vì họ biết rằng họ không phải là những con heo. Họ chỉ uống những khi rảnh rỗi, gặp dịp… Bởi vì họ cần mens sana in corpore sano (một tâm hồn lành mạnh trong một cơ thể khỏe mạnh).

Để giáo dục bản thân và không đứng thấp hơn môi trường xung quanh…cần phải làm việc cả sáng cả chiều, đọc luôn luôn, lòng hiếu học, lý trí…Từng giờ khắc đều quý…Em hãy đến đây, đập vỡ cái bình rượu vođka ấy đi, nằm xuống và đọc, hãy đọc chẳng hạn Turgeniev, tác giả mà em còn chưa đọc ấy…!”


P.S. Nhà văn Chekhov còn là một bác sỹ tâm lý giỏi, thế nên ông là hình mẫu của việc “nói được-làm được”. Cũng như đa số các nhà văn, nhà thơ kinh điển của Nga (hình như có một “truyền thống” như vậy) ngoài vợ ra ông còn có hàng chục nhân tình và luôn tìm được cách thoát ra khỏi họ mà không quá làm họ tổn thương. Ông cũng rời khỏi cõi đời theo một cách rất “có giáo dục” và phải nói là rất ngoạn mục. Bị lao phổi đã lâu, khi đang nghỉ dưỡng ở Đức, thấy mệt lúc nửa đêm, lần đầu tiên ông cho mời bác sỹ tới khám. Khi bác sỹ tới rồi, ông gọi một chai sâm-panh, rót đầy một cốc, sau đó nói “Tôi chết đây” bằng tiếng Đức và tiếng Nga. Thế rồi ông uống hết cốc rượu, cười bằng nụ cười luôn quyến rũ của mình, chỉ nói thêm “Tôi lâu lắm chưa uống sâm-panh…”, nằm xuống giường và ra đi mãi mãi!


Nam Nguyễn sưu tầm, bổ sung lời dịch của Đoàn Tử Huyến – Theo : Chungta.com

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2015

Tôn giáo xách tay

Lang thang nhiều trên mảnh đất Nam Bộ, tôi đã chạm đến tầng tín ngưỡng của những "tôn giáo xách tay".
Khái niệm “tôn giáo xách tay” là của nhà nghiên cứu Đỗ Thái Đồng để chỉ một số tôn giáo ở Nam Bộ được đề xuất trong một cuộc hội thảo về tôn giáo. Khái niệm này nhấn mạnh đến sự đơn giản hóa các thể thức trong tín ngưỡng và tôn giáo ở Nam Bộ. Sự đơn giản hóa này xuất hiện ở mọi nơi, mọi lúc. Sự đơn giản và thuận tiện ấy xuất phát từ cách sống của những người dân Nam Bộ, vốn là những lưu dân đi mở đất. Ở cái thuở ban đầu đấy, họ không có cơ ngơi hoành tráng, nhà cao cửa rộng và vẫn còn phiêu bạt đó đây để tìm cho mình một chỗ trú chân thích hợp. Trong điều kiện đó, có khi còn lênh đênh trên ghe, xuồng, hoặc ở chòi, ở lều, thì mọi thứ cần phải đơn giản, gọn nhẹ, kể cả tín ngưỡng, tôn giáo. Chỉ cần cành hoa, chén nước lạnh, nhúm gạo sống, miếng thịt… là có thể đủ cho một bàn thờ, thực hiện được các nghi lễ cúng bái. Xong việc, có thể dẹp bàn thờ, cho bát nhang vào túi cói, túi bang xách đi. Tín ngưỡng tôn giáo với người dân Nam Bộ không phải là sự ràng buộc khắt khe. Họ đến với tín ngưỡng, tôn giáo không phải vì giáo lý của tôn giáo đó. Thậm chí họ cũng không quan tâm nhiều đến giáo lý. Tín ngưỡng, tôn giáo đối với họ đơn giản chỉ là niềm tin, là chỗ dựa để họ vững lòng khi phải đối diện một thiên nhiên còn nhiều nét hoang sơ “Muỗi kêu như sáo thổi. Đỉa lội tợ bánh canh. Cỏ mọc thành tinh. Rắn đồng biết gáy”, hay “U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường. Dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua”.
Đi xuống vùng miền Tây Nam Bộ, sẽ dễ nhận thấy trước mỗi sân nhà, thậm chí trước mũi ghe, có một bàn thờ thiên. Bàn thờ thiên là bàn thờ trời, là một vị thần có quyền uy cao nhất theo tín ngưỡng của người Việt và người Hoa ở Nam Bộ. Bàn thờ thiên là một miếng ván gỗ nhỏ, được đặt trên một cây trụ gỗ. Trên bàn thờ thường có một bình hoa, bát nhang và chén nước lạnh. Vào ngày rằm mùng một, người ta thắp nhang vái tứ phương.
Ở đình làng, việc thờ cúng cũng khá đơn giản. Rất ít vị thành hoàng có tên tuổi và lai lịch rõ ràng, chỉ được ghi chung là “Thành hoàng bổn cảnh”. Nhiều đình làng không có sắc phong Thành hoàng, hay thậm chí đi ăn trộm sắc phong Thành hoàng của làng khác. Bàn thờ của đạo Hòa Hảo cũng khá đơn giản. Một tấm vải nâu (gọi là trần điều), bát nhang, chén nước lã, hoa, trái cây nếu có. Tín đồ cũng tu tại gia. Kinh của đạo Hòa Hảo gọi là Sấm giảng, viết ở thể lục bát, nôm na, dễ hiểu với số đông.
Một câu sấm giảng cho thấy sự ít ràng buộc về nghi thức, luật lệ:
Tu không cần lạy cần quỳ
Ngồi đâu cũng sửa vậy thì mới mau.
Nếu Nam Bộ là môi trường động thì Bắc Bộ là môi trường tĩnh. Lũy tre làng, tập tục, hương ước của một vùng đất cổ đã khiến cho việc nảy sinh cái mới, nhất là cái mới trong tôn giáo xem ra có vẻ khó khăn hơn. Đất Bắc bộ lại là mảnh đất truyền thống của Phật giáo, là nơi gần với ảnh hưởng của lễ giáo phong kiến Trung Hoa, xem ra bảo thủ hơn, thuần chất hơn trong mọi vấn đề, chứ không chỉ riêng vấn đề tôn giáo. Còn Trung Bộ, xét cho cùng cũng mang nhiều nét mới, đó cũng từng là mảnh đất của một tộc người khác, quốc gia khác. Nhưng môi trường biển khiến cho tín ngưỡng, tôn giáo ở vùng đất này ngoài truyền thống ra, lại chủ yếu mang những nét đặc trưng của miền biển, chứ không hướng đến sự đơn giản, thiết thực của những cư dân đồng bằng Nam Bộ. Mặt khác, Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ cũng nhiều phần giống Bắc Bộ, lại là nơi đặt kinh đô suốt mấy trăm năm, không dễ gì có điều kiện cho những tôn giáo mới. Nam Trung Bộ thì tôn giáo vẫn chủ yếu có dấu ấn của người Chăm, hoàn cảnh không giống như ở Nam Bộ. Nên có thể nói sự xuất hiện của các “tôn giáo xách tay” hay “ông đạo ” ở Nam Bộ là sự riêng biệt và không lặp lại của lịch sử.
Đạo Cao Đài cũng có hình thức kinh kệ đơn giản gọi là Cơ bút.
Bên cạnh những tôn giáo được nhắc nhiều trong sách vở như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo, Cao Đài… có thể được gọi là “tôn giáo xách tay” thì ở Nam Bộ xuất hiện những ông đạo. Đây là hiện tượng rất đặc thù, riêng có vùng đất này. Có những ông đạo nổi tiếng như đạo Khùng, đạo Tưởng, đạo Dừa, đạo Ngồi, đạo Nằm, đạo Chuối, đạo Gò Mối… Bản thân cái tên đã chỉ rõ tính chất quan trọng nhất của các loại “đạo” này. Ông đạo Khùng ngày nay chắc được xếp vào loại bệnh nhân tâm thần phân liệt. Ông đạo Nằm (tôi từng đến chùa nơi ông tu) chủ trương nằm để tu, nằm để phản đối chiến tranh (có thể là một hình thức bất bạo động kiểu thánh Gandhi chăng?). Ông đạo Ngồi thì lại tu… ngồi là chính. Ông đạo Dừa, đạo Chuối chủ trương dùng thực phẩm là những món này. Đạo Gò mối là do tu trên Gò mối, không cần chùa.
Khái niệm ông Đạo ở Nam Bộ là để chỉ những người có khả năng đặc biệt, như khả năng chữa bệnh, khả năng tập hợp quần chúng, khả năng huyền linh, dẫn dắt mọi người theo một chủ thuyết nào đó. Tóm lại, là người có khả năng làm những điều mà người bình thường không làm được, và mang màu sắc thần bí”.
Nhiều ông Đạo ở Nam Bộ không đại diện cho một tôn giáo nào. Ông không có đồ đệ, tín đồ (tất nhiên trừ một số vị danh tiếng như đạo Dừa), cũng không đề xuất ra lý thuyết hay giáo lý gì. Nhưng người dân thì sùng bái và tin các ông Đạo, thậm chí sợ hãi họ vì cho rằng các ông đạo có khả năng siêu phàm, hơn người thường. Các ông Đạo được xem là có khả năng tiếp xúc với thần thánh, thế giới siêu nhiên, và mọi hành vi kỳ quái dễ được giải thích là để tiếp xúc với thần linh.
Mặt khác, nhiều ông đạo lại kiêm luôn việc chữa bệnh, bốc thuốc cho người dân, vì thế, lòng tin lại được tăng thêm nếu ông chữa khỏi bệnh. Những ông đạo thường chữa bệnh bằng việc kết hợp hai phương thức. Họ dùng cây cỏ để chữa bệnh (trong trường hợp rắn cắn, cảm sốt…) và kèm theo là việc cúng bái, thực hiện các nghi thức có tính bùa chú như lên đồng, trừ ếm tà ma…
Người dân Nam Bộ cũng nhờ vả các ông đạo trong những lĩnh vực khác. Họ nhờ xem vận hạn, ngày lành tháng tốt cho việc ma chay, cưới hỏi. Họ cầu khẩn ông đạo ra tay trừ các loại yêu quái làm hại gia đình, làng xóm, giải thoát con người khỏi tai ương. Các loại bùa phép, ngải, cùng những nghi thức cầu cúng được thực hiện để ngăn chặn, trục xuất ma quỷ. Từ đó nảy sinh huyền thoại về các loại bùa phép tránh được dao kiếm, súng đạn…
Vậy tại sao ở mảnh đất miền Nam mới có các ông đạo, hay cao hơn một bậc là các “tôn giáo xách tay”? Quay lại với bối cảnh thời khẩn hoang Nam Bộ, người dân Việt cần đến nhu cầu tâm linh một cách đơn giản và thiết thực, nhất là khi nhiều tộc người có sự chung sống cộng cư với nhau, ảnh hưởng đến nhau. Nét cá tính của người Nam Bộ như bình dân, đơn giản, phóng khoáng, không câu nệ lễ nghĩa, không nghĩ cao xa, viển vông, mà lại thực tế là điều được hình thành từ thuở di dân. Những “tôn giáo xách tay” hay “ông đạo” đã đáp ứng được nhu cầu này. Sự tin tưởng thậm chí cả tin được xác lập, bởi vì người thấy phù hợp với lối sống, lối sinh hoạt của mình. Không cao xa về giáo lý, học thuyết, mà lại gần gũi, thiết thực nhưng vẫn có những yếu tố thần bí, ly kỳ, lạ lẫm đủ sức mê hoặc. Niềm tin vào những tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống như tín ngưỡng thờ Thành hoàng, Phật giáo… dường như chưa đủ, mặt khác lại quá phức tạp, chưa đáp ứng được điều mà tâm thức người dân Nam Bộ hướng đến. Những giáo lý đơn giản, những con người thật nửa linh thiêng, nửa trần tục như ông Đạo, xem ra là phù hợp hơn.
Tính phóng khoáng ấy còn được thể hiện ở chỗ người dân Nam Bộ có thể sẵn sàng theo hay rời bỏ tôn giáo mà không câu nệ. Họ cũng sẵn sàng chấp nhận một lúc nhiều tôn giáo hay chấp nhận hỗn dung tôn giáo (nhiều gia đình tôi quen biết có hiện tượng trong cùng một gia đình mà theo những tôn giáo khác nhau). Các nhà nghiên cứu cho rằng khi tôn giáo truyền thống vào Nam Bộ, cư dân ở đây đã có sự “tái cấu trúc” lại tín ngưỡng tôn giáo cho phù hợp với điều kiện sống, môi trường sống của mình.
(Tác giả: Hà Vân)

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015

Một số fact về sách hiện nay

- Nhà sách tồn tại nhiều điều khó hiểu nhất, kiêm luôn nhiều chi nhánh nhất: Nguyễn Văn Cừ (Thành Nghĩa Bookstore).
- Nhà sách to nhất khu vực phía Nam [mình biết]: Nguyễn Văn Cừ Cây Gõ (Thành Nghĩa Bookstore). Địa chỉ: 805 Hồng Bàng, F9, Q6, TPHCM. Trên lầu còn rất rất nhiều sách chưa trưng bày, sân thượng có cả hòn non bộ, nuôi cá, mà nhìn hoang tàn, lên một lần sợ ma muốn chết.
- Nhà sách hoành tráng nhất: Cá Chép (1&2).
- Nhà sách có bề ngoài diễm tình nhất: Nhà sách Văn Lang (hồng quyến rũ).
- Nhà sách nhiều nam thanh nữ tú nhất: Phương Nam Bookstore (940 3/2, F15, Q11, TPHCM).
- Nhà sách có nhiều facebook nhất: FAHASA.
- NXB ra quyển nào là nên đọc quyển đấy [không bổ ngang cũng bổ dọc]: NXB Tri thức.
- Dòng sách "hại não" nhất: Tủ sách tinh hoa (NXB Tri thức) & Omega (Alphabooks).
- Dòng sách văn học cổ điển chọn lọc nên xem: Đông A & Nhã Nam.
- NXB xuất bản nhiều quyển độc nhất: NXB Thuận Hóa.
- NXB ra nhiều sách hay mà kén đối tượng đọc nhất: NXB Đại học quốc gia.
- NXB ra sách phong phú và đa dạng nhất: NXB Trẻ.
- NXB thân thiết với thế hệ thiếu nhi, thanh thiếu niên Việt Nam nhất: NXB Kim Đồng.
- Làm sách có bìa đẹp nhất: Nhã Nam.
- Giá bìa sách [MỚI] hợp túi tiền nhất: Nhã Nam.
- Ký kết độc quyền với tác giả nhiều nhất: Phương Nam Books & NXB Trẻ.

Bài viết mang quan điểm cá nhân.
GĐ,24/12/2015

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2015

Chỉ có mình là nhất

Theo nhà nghiên cứu Nhật Shiba Ryôtarô (1923-1996), một khuynh hướng của người Việt là “xem người dân tộc mình ưu việt so với người dân tộc khác ” .. do đó là một sự cản trở đối với việc học hỏi và chung sống với thế giới. Điều này tôi đã dẫn ra trong bài viết Hội chứng “ít chịu học hỏi” “ tự mình mê mình” ở người Việt đưa trên FB của tôi ngày 27-7-2015.

Trên đường học lại lịch sử VN, tôi rất cảm ơn tập san Nghiên cứu Huế (NCH) của Nguyễn Hữu Châu Phan nơi có hàng loạt bài về xã hội VN qua các thời kỳ lịch sử. Từ số một ra đầu 1999, NCH có in bài Việt Nam vào thế kỷ XIX qua hồi ký của John White, John Crawfurd George Gibson, tác giả là người Anh Patrick J. Honey. Ông này là nhà nghiên cứu kỳ cựu về VN.

Ở tr 221, số NCH nói trên, sau khi nói về nhiều mặt sinh hoat khác của người Việt, Patrick J. Honey có trích một đoạn trong hồi ký của Crawfurd: “ Người Việt rất tự kiêu và tự coi như dân tộc bậc nhất trên thế giới, không cả chịu nhận người Trung Hoa là người hơn mình. Họ coi người Cao Mên là man rợ và đối với người Xiêm La thì cũng chẳng nể nang gì hơn.”

Tôi thấy tin thêm ở các nhận xét loại này, khi nhớ lại một chi tiết trong truyện Tấm Cám, mà trong bài viết về truyên này tháng 10-2015, tôi chưa nhắc tới.Đó là đoạn vua hay hoàng tử cho mọi phụ nữ vào thử hài để tìm cho ra người đẹp. Khi Tấm đến thử, mẹ Cám cũng có mặt ở đấy. Bà ta khinh rẻ Tấm coi thường Tấm không muốn cho Tấm nên người, nên bảo Cám:

"Chuông khánh còn chả ăn ai
Nữa ư mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre."

Ta có thể đoán trong thâm tâm của mẹ Cám, lúc này nảy sinh một cảm giác tự nhiên không cần nghĩ ngợi gì nhiều cứ buột ngay ra. Là sự kiêu căng thấy mình thuộc loại ưu hạng (chuông khánh), còn mọi kẻ khác đều là méo mó nửa đời nửa đoạn( mảnh chĩnh vứt bờ tre).Ngẫu nhiên chăng? Không phải. Quan họ Bắc Ninh cũ cũng có đôi câu phảng phất tinh thần trên:

"Tôi đi khắp bốn phương trời
Không đâu lịch sự như người ở đây"

Rồi thì làng nào khen làng ấy vùng nào khen vùng ấy, cái tinh thần kiêu ngạo lây lan khắp nơi. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, tức “thiên hạ là cứt hết” “chỉ có mình là nhất, chỉ mình mới xứng đáng với những gì cao đẹp” và không còn nghi ngờ gì nữa “mình đây hơn hẳn thiên hạ”.

Lục lại ký ức, một người thất thập như tôi còn thấy đây là một cảm giác thường trực ở người Việt mình trong khi nhìn nhận những gì ngoài mình. Nó cũng ăn vào tâm lý cộng đồng và trở thành một nét tâm lý dân tộc bền vững trong trường kỳ lịch sử, chi phối các cá nhân khi phải xử lý mối quan hệ với người các dân tộc khác.

Lúc còn trẻ con chúng tôi đã được nghe người lớn bảo nhau Ngớ ngẩn như chú Tầu nghe kèn. Lớn lên, ở miền Bắc thì nghe chê Nga ngố. Vào Sài Gòn sau 1975 cũng thấy người dân bảo nhau rằng nhiều khi thằng Mỹ rất dại.

Những gì ta thường tự nghĩ là ẩn kín trong lòng, và chỉ nói với nhau chỗ riêng tư, nhiều người nước ngoài khi tiếp xúc với người Việt, đã nhận ra từ rất sớm.Thế còn tại sao từ các thế kỷ trước người mình lại có lối nghĩ thế này và những biến tướng của nó trong xã hội hiện đại ra sao, đấy là các đề tài tôi sẽ suy nghĩ tiếp.


Vương Trí Nhàn