Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời - không. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời - không. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

Lịch sử cách ị hay là sự thay đổi mãi mãi phương thức ở của loài người?

Một trong những phát minh quan trong nhất góp phần kiến tạo nên hình thái đô thị hiện nay mà loài người đã phát minh ra, xuất phát từ nhu cầu hết sức cơ bản: ĐẠI TIỆN (dân gian tùy vùng miền gọi là đi cầu/ỉa/nặng).

Con trai đỡ đầu của nữ hoàng Elizabeth đệ Nhất, John Harington, khởi nguồn với thiết bị bồn cầu xả nước hiện đại đầu tiên năm 1596 với biết bao chế giễu và kết thúc sự nghiệp sáng tạo của mình trong sự nhạo báng, cười chê của mọi người.
200 năm sau (1775), Alexander Cumming đã làm nên cuộc cách mạng trong lịch sử, khi cải tiến phát minh "vớ vẩn" kia, áp dụng một ống hình chữ S (ta gọi cái dạ dày) ngay bên dưới bồn cầu. Chính điều này đã ngăn chặn mùi hôi từ cống đẩy ngược lên trên.

Nhờ có phát minh này, lần đầu tiên, chức năng "đại tiện": được gộp chung vào khu ở, hiện diện trong từng ngôi nhà, trong từng phòng ngủ, để từ đó các căn hộ khép kín ra đời.

Sau đó, người ta chồng các căn hộ khép kín này lên nhau theo các nguyên tắc, tạo thành các cao ốc, và từ đó, lối ăn ở của loài người được định nghĩa lại mãi mãi, theo hướng từ mở rộng bề ngang sang nâng cao chiều dọc.

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

Chiếc áo bà ba

Chiếc áo bà ba mà phụ nữ Nam bộ thường mặc có nguồn gốc từ đâu ?
Ngoài vải, vật dụng bằng sắt, tơ lụa, á phiện (từ Ấn độ), người Bà Ba (tức người Mã Lai lai Trung Hoa) còn mang đến ta sản phẩm đặt dấu ấn đến tận ngày nay. Với bản tính năng động, nhận thấy kiểu áo phù hợp với lối sinh hoạt và khí hậu quanh năm nóng bức, người Nam bộ mau chóng tiếp thu và cải biến để nó dần trở thành chiếc áo truyền thống.
"Bà Ba là người Mã Lai lai Trung Hoa. Chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, vạt ngắn không bâu chính là kiểu áo của người Bà Ba". Một quan niệm khác lại cho rằng "Có thể áo bà ba ảnh hưởng, cách tân từ áo lá và áo xá xẩu may bằng vải buồm đen của người Hoa lao động, là kiểu áo cứng, xẻ giữa, cài nút thắt... Phải chăng do thời tiết quanh năm nóng bức, họ bỏ luôn chiếc cổ thấp của áo lá và áo xá xẩu, mang thêm áo quanh chân cổ cho chắc. Áo xẻ giữa thay vì cài nút thắt đã được làm khuy, cài nút nhựa do ảnh hưởng phương Tây".
Ngoài ra, theo Sơn Nam, chiếc khăn rằn cũng là sản phẩm của phụ nữ Mã Lai (chứ không phải Khmer) như lâu nay ta vẫn nghĩ.
Một sản phẩm khác của sự liên lạc giữa ta (cụ thể là vùng Cái Mơn) và Mã Lai chính là trái cây. Có thể kể đến một số loại trái cây mà ta du nhập từ Mã Lai như: măng cụt, chôm chôm, bòn bon,...
Ngoài ra, khoảng thập niên 60 thế kỷ XX, một số nhà khảo cổ học uy tín (phần lớn là Mỹ) bắt đầu đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc và văn minh Việt Nam [và Đông Nam Á[ có phải chỉ là những chi nhánh của hai nền văn hóa lớn Trung Hoa và Ấn Độ.

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2015

Địa danh Thủ Đức

Dành cho những ai đã, đang và sẽ sinh sống, học tập tại đây một năm, hai năm, ... hoặc đã lâu năm. Thiết nghĩ, đã ở, làm việc tại nơi đâu thì nên rõ về nơi đấy, để không mang tội là bất kính với bậc tiền nhân.


Có nhiều nguồn về địa danh Thủ Đức. Nếu bạn tìm trên wikipedia sẽ thấy nguồn rằng: một ông tướng tên Đức trấn thủ thành nên từ đó gọi là Thủ Đức. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của bản thân, tích này có phần chính xác hơn; và trong tạp chí Xưa và nay cũng có đề cập đến tích này. Ông Tạ Huy (Tạ Dương Minh), hiệu là Thủ Đức, người Minh Hương, lánh nạn đến khu vực này, khai khẩn, lập ấp và xây chợ, đặt tên chợ theo tên hiệu Thủ Đức (ở Sài Gòn, chợ - yếu tố "thị" kinh tế, đi đầu rồi mới tới yếu tố "thành" hành chính). Từ một làng nhỏ, nay, khu vực này trở nên rất sầm uất. Nếu bạn muốn hiểu từ "biệt thự của đại gia" là thế nào thì không chỗ nào phù hợp hơn khu vực Công Lý, Độc Lập, Tự Do, Bác Ái, ... cặp đường Võ Văn Ngân. Công lao người xưa, phải suy và ngẫm.

Trong ảnh: mộ tiền hiền Tạ Dương Minh (xưa, tiền hiền thường là những người có công khai khẩn đất hoang, được vua sắc phong, được nhân dân lập nơi thờ phụng để tưởng nhớ). Từ đầu hẻm ngay KFC trên đường Võ Văn Ngân, đi thẳng gặp ngã quẹo đầu tiên rẽ trái, đi tới một ngã 3 nữa thì trên vách tường bên trái có bảng chỉ dẫn, đi thẳng tiếp sẽ gặp. Chỗ này cách nhà trọ chỗ mình 2 phút đi bộ, nhưng sống ở đây gần 3 năm rồi mới có dịp viếng. Âu cũng là cái sự chung ở đời, khi mỏi gối chồn chân, nơi nao gắn với tuổi thơ không lo nghĩ là cái đích cuối cùng của cuộc đời.

Khi đi trẻ, lúc về già
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao.
Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng : Khách ở chốn nào lại chơi ?
(Hồi hương ngẫu thư - Hạ Tri Chương, Phạm Sĩ Vĩ dịch)
LCĐ,19/6/2014

Lăng Võ Di Nguy

Võ Di Nguy là tướng theo phò Nguyễn Ánh từ những ngày đầu. Có lẽ, ông là vị tướng giỏi thủy chiến nhất, sau Nguyễn Văn Trương (1 trong Gia Định ngũ hổ). Ông lập nhiều công lao, sau tử trận do "bị một phát đạn bay đầu liền" trong trận đánh ở cửa Thị Nại. Ông được chôn cất ở Thế Miếu (nằm góc Tây Nam Hoàng thành Huế, nơi thờ các vị vua triều Nguyễn và những bực công thần), được phong tước Bình Giang quận công. Ở Sài Gòn, lăng ông được đặt ở Phú Nhuận (cùng với nhiều lăng khác như lăng Tả quân Lê Văn Duyệt, lăng Trương Tấn Bửu, ...), cụ thể số 19, đường Cô Giang.



Lăng có kiểu kiến trúc chỉ dành cho bực công thần, chia thành 2 khu: khu đền thờ phía trước và khu mộ phía sau, được xây bằng hợp chất cổ. Với kiến trúc gồm bình phong trước, bình phong sau, vòng tường bao xung quanh cùng các trụ cột là những thành phần che chắn, bảo vệ cho phần mộ giữa. Mộ được xây dựng có hình chữ nhật xung quanh khắc các đường trang trí và hình tượng "dây lá hóa rồng" đang bay lượn. Khu mộ được đắp nổi nhiều hình tượng và trang trí nhiều mô típ hoa văn độc đáo, sống động: hoa sen, kỳ lân, rồng, hổ, voi, rái cá, tùng lộc, lộc bình, hoa điểu, hoa cúc dây, ... cùng nhiều bài thơ ghi công đức của ông và phu nhân.

Lăng nằm trong một góc thanh tịnh, gần ngã tư Phú Nhuận ồn ào, nào nhiệt. Người giữ lăng là bà cụ (mình không dám hỏi tên) đã sống ở đây hơn 50 năm. Bà kể: "quét tước, cúng tế, ... đều là tiền tư, không có được hỗ trợ gì hết trơn á cháu". Lăng Võ Di Nguy được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 07 tháng 01 năm 1993. Cấp quốc gia cơ đấy, ngẫm mà xót.

Địa danh Ba Cụm

Giữa hai sông Vàm Cỏ Đông và Sài Gòn có đoạn sông nối. Vì chịu tác động thủy triều của hai con sông, lúc nước xuôi thì tàu thuyền thuận lợi, nước ngược thì cắm thuyền đợi lúc nước thuận. Vì thế nên khúc này, tàu thuyền luôn tấp nập, nhộn nhịp cảnh "trên bến dưới thuyền", hẳn ai cũng tửng nghe bến Bình Đông.

Bấy giờ khoảng giữa thế kỷ 18, đoạn này, "còn nhiều chỗ xưng bá, thuyền cướp tụ tập phá quấy ghe thương hồ, (ngày trước còn để lại tàn tích "bối Ba Cụm")". Ông Nguyễn Cư Trinh (một trong những người có công to lớn nhất ở đất này) nhiều sáng kiến, bày ra lệ bắt thuyền các hạt, bất luận lớn nhỏ, trước mũi phải khai tên họ, quê quán, chủ thuyền, và ghi bộ quan sở tại để tiện tra xét.

Lại nói về Ba Cụm, đây là 1 làng nhỏ ven đoạn sông, nay thuộc xã Tân Bửu, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Khu này cùng với Chợ Đệm, Bình Điền, giặc quấy rất ác. Có câu chuyện cổ Nam Bộ về "bối Ba Cụm", đọc cho vui:

"Chiếc ghe cui khẳm đừ. Trên chất rất nhiều hủ đường vàng nghỉnh, loại hủ 20 lít, chuyên đựng đường chảy mà dân gian gọi là đường hủ. Một người ngoài tứ tuần đang chèo từ từ ngắm cảnh tìm mối quen dừng ghe mua ít thứ chạp phô (tạp hoá) nấu bữa cơm chiều. Trước mũi ghe là một cô gái bảnh bao trong bộ bà ba áo lãnh Cẩm Cuống, quần Mỹ A Tân Châu đúng mốt thời thượng, tuổi trạc hăm, mặn mà sắc sảo. Chuyện mấy ông thương hồ chở vợ bé đi buôn cũng là mốt thời thượng. Cô gái mệt mỏi nằm lim dim trước mũi ghe. Gió sông mơn man vén hai tà áo khoe bờ eo trắng nõn.

Đám bối trên bờ theo dõi không bỏ sót chi tiết nào. Thằng bối anh chắt lưỡi: “Con nhỏ ngon cơm quá tụi bây!” Bọn đàn em lao nhao: “Đại ca chỉ thích chuyện ấy! Tụi em đói meo đây nè!” “Lấy đường kìa mà ăn!” “Lấy cái quần Mỹ A kia thích hơn, còn đại ca một phen nhìn được cái trong quần Mỹ A!” Cả bọn cười ầm. Rồi một thằng bối em thì thầm hiến kế. Nó phóng ùm xuống sông. Chẳng biết làm thế nào, cô gái lim dim mơ màng kia la thất thanh và tuột cái quần Mỹ A đạp xuống sông, còn nó cười ha hả lấy cái quần lội vào bờ. Ông lái đường trố mắt ngạc nhiên nhìn cả bọn chỉ biết cười trừ vì rừng nào cọp nấy!

Lên bờ bọn bối kháo nhau: “Mầy làm phép gì vậy?”, tên bối anh cười hì hì: “ Giỏi! Giỏi! Nó lấy cọng mái dầm dốt dốt. Nó ong cho săn (se như xe chỉ), lén đút vào ống quần con nhỏ. Cọng mái dầm vừa trơn vừa lạnh bị bung ra uốn éo như con rắn chui ống quần. Con nhỏ thất kinh tuột quần la hoảng”. Cả bọn thán phục tài thằng bối em mới vào nghề."

3 người thống nhất Nhật Bản

- Nếu con chim cúc cu không hót, hãy giết nó (1)
- Nếu con chim cúc cu không hót, hãy vuốt ve nó (2)
- Nếu con chim cúc cu không hót, hãy chờ đợi nó (3)


Chắc có lẽ nhiều bạn nghe và hiểu câu này. Mình xin mạn phép viết mấy dòng cho một số bạn chưa nghe hoặc chưa rõ nghĩa; đồng thời cũng giúp bản thân ghi nhớ một cách hệ thống hơn.

Đây là 3 câu thơ senryu nổi tiếng viết về tính cách nổi bật của 3 người lãnh đạo có công lớn nhất trong việc thống nhất Nhật Bản.

- Câu (1) viết về Oda Nobunaga (1534 - 1582), ông là người lãnh đạo thứ nhất trong 3 người thống nhất Nhật Bản. "Giết nó" - với tính cách tàn bạo, ông đã đặt nền mống đầu tiên cho việc thống nhất nước Nhật. Đặc biệt, ông thích sử dụng lực lượng đánh thuê để tổ chức lực lượng quân đội của mình. Chính điều này đã giúp ông nhanh chóng thống nhất đất nước, đồng thời cũng là cái kết cho cuộc đời ông. Akechi Mitsuhide, tướng giỏi nhất của ông, đã trở mặt và trong một lần Oda đi chơi tại chùa Honno, Akechi đã dẫn quân đến đốt chùa và bắt Oda tự sát theo nghi thức Seppuku (mổ bụng).


- Câu (2) viết về Toyotomi Hideyoshi (1537 - 1598). Xuất thân từ tầng lớp nông dân, với khả năng ngoại giao, tài thuyết phục tài tình (hay nói khác đi là nịnh bợ), ông đã thống nhất được nước Nhật (về cơ bản). Vế "vuốt ve nó" đã nói lên điều này.


- Câu (3) viết về Tokugawa Ieyasu (1543 - 1616). Ông là người đã hoàn thành việc thống nhất nước Nhật (trên cơ sở hai người trước). Tính cách nhẫn nhục, chờ đợi thời cơ chín muồi chính là điểm mạnh nhất của ông. Chờ đến khi Toyotomi mất, ông mới bắt đầu chiến dịch của mình, và thắng lợi trong trận Sekigahara (năm 1600) đã mở ra thời kỳ mới - thời kỳ của Mạc phủ Tokugawa, kéo dài 268 năm cho đến khi kết thúc bởi chiến tranh Mậu Thìn năm 1868 (tới thời kỳ Minh Trị).

Trong ảnh, từ trái sang lần lượt: Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi, Tokugawa Ieyasu. Nguồn ảnh: Samurai Warriors.

Hoàng Diệu

"Đi thăm mộ Hoàng Diệu. Nếu ở Nam Bộ đồng bào gọi là lăng. Công lao của Hoàng Diệu đối với đất nước còn hơn mấy ông vua cùng thời. Phần mộ khiêm tốn quá, giữa cánh đồng lúa, vắng vẻ, xa xóm làng. Ông đã thắt cổ tự tử, khi đánh Pháp, chống giữ thành Hà Nội lần thứ nhì (1882), Đang trực chiến với giặc quá mạnh thì bọn nội ứng đã cho nổ kho thuốc súng trong thành. Bấy giờ, cấp bậc của ông là Tổng đốc, cai quản 2 tỉnh, ông tự tử trong khi bà vợ đang nhổ cỏ ruộng lúa, như một nông dân lam lũ. Bà mẹ ông rất trong sạch. Lúc làm quan, có lần ông gửi về cho mẹ một vóc lụa. Bà mẹ không nhận, gởi trả lại cho con, kèm theo một nhánh dâu, tượng trưng cho ngọn roi, để cảnh cáo đứa con đừng nhận quà cáp gì của dân." (Trích từ "Đi rong Quảng Nam" của ông Sơn Nam).

Ông run rẩy, cẩm ngọn roi ngắm nghía, nhớ lại hồi bé trốn học đi chơi, bà mẹ giận quá, bắt ông nằm sấp xuống, cầm roi quất một cái vào mông. Hôm nay những vết roi vô hình của mẹ lại quất lên mông, nhói đau hơn cả vết roi lần trước, tưởng chừng thịt da rát bỏng.

Ông lại mường tượng cảnh trong ngôi nhà ba gian lạnh lẽo ở thôn Xuân Đài, bà cụ lưng còng tóc bạc, lẩy bẩy bắc ghế trèo đứng lên với lấy cây roi giắt trên mái nhà xuống, gạt mồ hôi, thở hổn hển. Không ngờ đến lúc mẹ tuổi già, mà con còn để mẹ phải buồn giận vì con.

Bài thơ "Kiếm bên roi" của ông:

Kiếm ta sắc chừ, chém đầu quân giặc,
Roi ta mạnh chừ, trị lũ tham quan,
Có roi thiếu kiếm chừ, nước sao vững,
Có kiếm thiếu roi chừ, dân không an
Kiếm bên roi chừ, nguyện lòng son sắt,
Roi bên kiếm chừ, đẹp nghĩa chi lan ...


Phần mộ của ông ở quê nhà Thôn Xuân Đài, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.. Ông còn được thờ trong đền Trung Liệt (cùng với Nguyễn Tri Phương) trên gò Đống Đa.

Địa danh Cầu Bông

Ở rạch Thị Nghè, ăn vào phía Bà Chiểu (khu vực cầu Bông ngày nay), xưa là vùng đầm lầy, đất thấp, nước phèn, đầy rắn, cọp và bệnh sốt rét. . Người Khơme bản địa sống co cụm trên đất cao, làm ruộng thâm canh. Người Hoa cũng thế, giữ tập quán thâm canh cũ, làm rẫy rau cải, khoai lang, ... không xông xáo "phá sơn lâm, đâm hà bá" như dân Việt. Dân miền Trung vào định cư, sống với nghề chài lưới, đánh cá để mua gạo, mua trầu cau từ nơi khác sán xuất. Cảng Sài Gòn thành hình dần dần, đem lại phồn vinh cho một vùng đất trù phú và lý tưởng. Ngẫm lại thấm, công ơn của tổ tiên thật to lớn.


Ảnh: Phối cảnh cầu Bông sau khi xây xong (cầu Bông cùng với cầu Kiệu, cầu Hoàng Hoa Thám đang trong giai đoạn sửa chữa, giao thông bất tiện).

Cầu Bông xây năm 1771, nối liền 2 vùng Đa Kao và Bà Chiểu, lúc đầu mang tên là Cao Miên, do một Phó vương Cao Miên lúc đó đang xin tá túc tại Bến Nghé, cho bắt qua sông để tiện việc đi lại.

Về cái tên cầu Bông có nhiều giả thiết, nhưng giả thuyết được nhiều nhà nghiên cứu vùng đất Sài Gòn nói đến nhất là sau khi Tả quân Lê Văn Duyệt xây dựng 1 vườn hoa xinh đẹp gần cầu này thì dân gian bắt đầu gọi là cầu Hoa. Sau này, người dân phải đọc trại thành cầu Huê vì kiêng tên bà Hồ Thị Hoa là vợ vua Minh Mạng, mẹ vua Thiệu Trị (triều Nguyễn). Sau cùng, người dân Sài Gòn đổi hẳn tên cây cầu này là cầu Bông (bông là hoa theo cách gọi của người miền Nam) cho đến nay.

Con đường có lá me bay

Nói về đặc trưng cây xanh thì nếu như ở Hà Nội là "nhớ phố Quang Trung đường Nguyễn Du những đêm HOA SỮA thơm nồng" (Nhớ về Hà Nội - Hoàng Hiệp) thì Sài Gòn có "Con đường có LÁ ME bay, chiều chiều ta lại cầm tay nhau về..."


Bài hát Con đường có lá me bay (thơ Diệp Minh Tuyền, Hoàng Hiệp phổ nhạc) ắt hẳn đã hằn sâu trong kí ức của dân cựu trào Sài Gòn hoặc những ai thích dòng nhạc trữ tình thời chiến này. VẬY CON ĐƯỜNG CÓ LÁ ME BAY LÀ ĐƯỜNG NÀO ?

Có lẽ học sinh trường Lasan Taberd (nay là trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa) biết rõ điều này nhất. Chiều chiều tan trường, từng tà áo dài thướt tha trên con đường rợp bóng me xanh ngắt, cảm giác thật trong trẻo, tràn đầy nhựa sống. Mỗi khi trời mưa, "mưa me" rơi lộp bộp từ tán lá xuống tóc, mặt, đọng trên mi, vương trên cánh mũi, ... lá me rải khắp mặt đường, vạn vật như vừa trải qua một quảng nghỉ ngắn để bắt đầu guồng quay mới.

Vâng, tôi đang nói đến con đường Nguyễn Du dài khoảng 2.266m, lộ giới 20m, chạy từ đường Tôn Đức Thắng đến đường Cách mạng tháng Tám, thuộc các phường Bến Nghé và Bến Thành, quận 1 và có 250 cây me. Con đường này đã là cảm hứng cho rất nhiều bài hát đi vào lòng người: Em còn nhớ hay em đã quên (Trịnh Công Sơn), Thành phố tình yêu và nỗi nhớ, Sài Gòn trên đường Nguyễn Du, ...

"Cây me của các đô đốc" có tên khoa học là Tamarindus India, còn có tên là Tamarind tree, thuộc họ Vang - Caesalpiniaceae, nguồn gốc từ châu Phi và Ấn Độ, được trồng trên đường Nguyễn Du vào năm 1895 với khoảng cách 5m/cây. Ngoài ra, một số con đường có lá me bay khác: La Grandière (Lý Tự Trọng), Catinat (Đồng Khời),Espagne (Lê Thánh Tôn), Mac Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa), ...

Cây me đã và đang chứng kiến sự hình thành và phát triển của vùng đất Sài Gòn. Trong lúc ngồi viết mấy dòng này, tôi bất chợt nhận ra rằng mình đang ngân nga:

"Em đi đâu về mà tóc đầy me 
Em ngồi em chải, nghĩ gì vui thế ..."

06/7/2014

Thành Quy và thành Phụng

Đây là 2 thành trì quan trọng thời nhà Nguyễn. Tổng hợp để trình bày cho dễ hiễu theo mốc thời gian.

- THÀNH QUY: Đầu tiên, chú ý thành lớn, đó là thành Quy (hay còn gọi là thành Bát Quái).

+ Thời gian tồn tại: 1790 - 1835, do Nguyễn Ánh nhờ 2 sĩ quan công binh Pháp là Olivier de Puymanel và Le Brun cùng Trần Văn Học thiết kế nhằm phòng thủ quân Tây Sơn.

+ Vị trí: thành Quy nằm giữa 4 đường mang tên Đinh Tiên Hoàng (Đông Bắc), Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Tây Nam), Lê Thánh Tôn (Đông Nam), Nguyễn Đình Chiểu (Tây Bắc). Mặt tiền thành Quy hướng về phía Đông Nam. Trường đại học KHXH&NV nằm về phía Đông Bắc, có 2 cửa: Chấn Hanh (chấn có nghĩa là sấm theo bát quái) và Cấn Chí (cấn là núi).

+ Kiến trúc: kiểu kiến trúc phòng thủ Vauban nhưng lại mang hình bát quái, theo phong thổ Á Đông và mỹ thuật dân tộc Việt Nam. Tường thành làm bằng đá ong Biên Hòa hình lục lăng, cao 4,8m, từ Đông sang Tây dài 648m, từ Bắc đến Nam áng chừng cũng thế. Bao quanh thành là hệ thống hào lũy dài 3820m, rất kiên cố và tráng lệ.

+ Năm 1833, Lê Văn Khôi nổi loạn (xem thêm cuộc nổi dậy để biết nguyên nhân nha, liên quan tới Lang Ông ở chợ Bà Chiểu á), chiếm thành Quy. Năm 1835, bị đánh bại, thành Quy bị phá hủy để xây thành Phụng.

- THÀNH PHỤNG: hay còn gọi là thành Gia Định quan sát thành nhỏ.

+ Thời gian tồn tại: 1836 - 1859.

+ Vị trí: thành Phụng nằm giữa 4 con đường Nguyễn Đình Chiểu (Tây Bắc), Lê Duẩn (Đông Nam), Mạc Đỉnh Chi (Tây Nam), Nguyễn Bỉnh Khiêm (Đông Bắc).

+ Kiến trúc: kiểu kiến trúc phòng thủ Vauban nhưng nhỏ hơn thành Quy nhiều, dễ bị bắn phá hơn và chỉ có bốn pháo đài bốn góc so với tám pháo đài của thành Bát Quái cũ. Tường thành cao 20 m dài trên 475 m được làm từ đá granite, gạch và đất. Xung quanh thành có hào nước bao bọc.

+ Ngày 8/3/1859: bị Pháp đánh chiếm và phá hủy.

Thi đáo Tùng Tuy

Cũng như Thi Sách giao với Hai Bà Trưng, Lạc Long Quân thì phải hợp với Âu Cơ; qua cầu Chà Và, mé quận 8, có đường Tùng Thiện Vương, lại có đường Tuy Lý Vương nối liền nhau, nhiều người qua lại nhưng ít biết rõ mối quan hệ hai cái tên này. (Bài viết dài quá, ai thích đọc chơi).

Vua Tự Đức đã nhận xét: “Văn như Siêu, Quát; Thi đáo Tùng, Tuy”. Tùng Thiện Vương tên Miên Thẩm, Tuy Lý Vương tên Miên Trinh, hai ông là con trai thứ 10 và 11 của vua Minh Mạng, có tài làm thơ xuất chúng, cùng với Tương An Quận Vương Miên Bửu (con trai thứ 12 của vua Minh Mạng) xưng là Tam Đường nhà Nguyễn (trong chơi bài thì người ta gọi là 10 J Q hoặc là 10 bòi đầm). Hai ông đồng sáng lập nên Mạc Vân Thi Xã (hay còn gọi Tùng Vân Thi Xã), một hội thơ nổi tiếng của cố đô Huế ngày xưa, tập hợp nhiều danh sĩ đương thời như: Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đăng Giai, … và được so sánh với Hội Tao Đàn của vua Lê Thánh Tông thời Hậu Lê.

Thơ cả hai ông đều được đánh giá rất cao, nhưng mỗi người một phong cách khác nhau. Thơ của Tuy Lý Vương theo đánh giá là “cẩm tâm tú khẩu” (lòng gấm, miệng vóc, chỉ người làm thơ lời đẹp như gấm vóc), có tiên phong đạo cốt, nghe như khúc hát nghê thường, dầu chưa hết bài cũng hiểu được điệu hát du dương ở trên cõi trời, chứ dưới cõi trần chưa dễ thấy. Tuy lời thơ khá điêu luyện, nhưng phần nhiều ít có giá trị hiện thực, kém Miên Thẩm, nhất là mặt tư tưởng. Sau này, ông có làm một số bài thơ nói về thực trạng xã hội và được đánh giá khá đặc sắc. Tùng Thiện Vương thì ngược lại. Ban đầu, chủ đề ông chọn thường là về hoa, bướm. Sau này, khi ra Lệ Khê, sống gần dân, hiểu được nỗi khổ của dân, ông làm nhiều bài nói lên thực trạng xã hội rối ren, loạn lạc khắp nơi, thiên tai mất mùa liên miên.

Ngày đầu xuân, 2 ông cùng các tôn thất và đại thần vào điện Thái Hòa bái thọ vua Minh Mạng. Vua muốn khoe tài thơ các con, bèn bảo từng người đọc một bài thơ, gọi là kiểm tra sức học thế nào. Tuy Lý Vương Miên Trinh đọc trước, đọc xong vua đắc ý, các quan thì ra sức xu nịnh. Tới lượt Miên Thẩm. Ông đưa mắt nhìn các vị quan tai to mặt lớn, rồi thưa:

- Tâu phụ hoàng, lời thơ của con còn vụng về, nếu có sai sót chỗ nào, mong phụ hoàng lượng thứ. Rồi ông cất giọng đọc:

Sớm dâng tiền phù lưu,
Tối dâng tiền phù lưu
Quan trên xơi phù lưu,
Dân dưới mới khỏi tù…
Dân dưới bán nhà bán đến vợ
Khỏi bị gông cùm thì bị nợ
Vợ bồng con đến để biệt chồng,
Ngó nhau nhai trầu khóc nức nở.

Nghe đến đâu, Minh Mạng mặt biến sắc đến đấy; còn các bị quan tham nhũng đều chạm nọc, tái mặt. Minh Mạng bảo: “Bài thơ này không trau chuốt bằng những bài con làm trước đây. Con thử đọc cho ta nghe bài khác xem có hay hơn không”.

Miên Thẩm bình tĩnh, ung dung đọc tiếp:

Ngày vác hai cây tre
Bán đi để đỡ dạ
Trong cửa, tre chất non,
Ngoài cửa, tiền không trả.
Chẳng nói thì đau lòng.
Nói thì roi quất thẳng vào hông.
Ôi chao ơi!
Đi ra về, nước mắt dầm dề,
Nay còn đốn vác làm chi hè,
Thà chết đói nằm bên tre.

Nghe xong, Minh Mạng giận đến đỏ mặt tía tai, ông đưa mắt nhìn hai quan giảng tập (chịu trách nhiệm dạy dỗ các tôn thất). Trương Đăng Quế vội quỳ xuống tạ:

- Tâu hoàng thượng, thần lạm giữ chức vụ bảo ban cho hoàng tử mà không tròn trách nhiệm, để hoàng tử làm thơ khiến bệ hạ phiền lòng, hạ thần xin chịu tội.

Nhưng Thân Văn Quyền bước ra, khảng khái nói:

- Tâu hoàng thượng, thần trộm nghĩ thơ của Thương Sơn (tên hiệu của Miên Thẩm) là muốn noi gương Bạch Lạc Thiên làm thơ để giúp vào việc sửa sang chính sự, uốn nắn lầm lỗi của kẻ làm quan, và để trên chín bệ hiểu thấu dân tình, thiết tưởng bệ hạ cũng nên rộng xét mà đừng nên chấp trách.

Biết Thân Văn Quyền xưa nay vẫn cương trực, dám nói, Minh Mạng đành dịu giọng:

- Thơ như vậy cũng không sao, chỉ có điều đầu năm mà đọc thơ nói đến chết chóc là gở, e sẽ rông cả năm. Thôi trẫm cho bãi chầu.

Miên Thẩm ra về, cười thầm trong bụng khi nhớ lại vẻ mặt tái như chàm đổ của mấy ông quan tham nhũng bị thơ chàng vạch mặt trước vua.

Ngày nay, ở Huế vẫn còn vương phủ của hai ông. Ngoài ra, ở Đà Nẵng, hai đường tên này cũng nằm cạnh nhau. Ngoài lề một chút, ắt hẳn ai cũng đã học qua bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, nhưng thực ra địa danh này bị gọi sai, nên gọi đúng là thôn Vĩ Dã (nghĩa là cánh đồng trồng lau), là tên hiệu của Tuy Lý Vương Miên Trinh, sau này dùng để đặt tên cho ngôi làng mà ông ở. Vĩ Dạ là vô nghĩa.

Ngoài lề một chút nữa, nếu có bạn thắc mắc vì sao tên mấy ổng đều có chữ Miên thì có thể google từ Đế hệ thi, khá thú vị.


(Ảnh đi lang thang, mắc mưa và ăn cháo bên Quận 8).

Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ - Huỳnh Lứa (chủ biên)

Nam Bộ được khai phá từ thế kỷ XVI (thời kỳ chúa Nguyễn). Mốc quan trọng đầu tiên là mượn Kas Krobei và Prey Nokor đặt trạm thu thuế (1623).


Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh đi kinh lý, ra sức ổn định dân tình, hoạch định cương giới xóm làng, lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy đất Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn. Mỗi dinh đặt chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để quản trị.

Năm 1708, Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên.

Năm 1732, lập châu Định Viễn và dựng dinh Long Hồ (sau là Vĩnh Long).
Năm 1756, tổ chức cai trị đạo Trường Đồn (sau là Định Tường).

Rồi năm 1757, cho lập các đạo Đông Khẩu, Tân Châu, Châu Đốc, Kiên Giang, Long Xuyên. Từ đó miền Nam thuộc về lãnh thổ Việt Nam với tên gọi phủ Gia Định.

Năm 1790 – 1802: Nguyễn Ánh thâu hồi được đất Gia Định từ Tây Sơn, cho xây thành Bát Quái, bấy giờ gọi Gia Định kinh.
1802 – 1808: Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy Phú Xuân làm kinh đô, giáng Gia Định kinh xuống Gia Định trấn.

1808 – 1832: đổi tên là Gia Định thành.
Sau khởi nghĩa Lê Văn Khôi 1832 - 1835, Minh Mạng bỏ hai thiết chế Gia Định Thành và Bắc Thành, đổi ra các tỉnh, xác lập lần đầu tiên đất nước toàn vẹn từ Bắc chí Nam hình chữ S như ngày nay.

--------------------------------------------------------

Q: Về địa danh Gia Định ?
A: Đất Gia Định là 1 địa danh có phần đất với ranh giới không cố định, thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử. Như trong bài đã đề cập, đến tận năm 1802, cái tên Gia Định dùng để chỉ chung toàn bộ miền đất Nam Bộ (bao gồm ĐNB và TNB). Giai đoạn 1832 - 1836, cái tên Gia Định biến mất trên bản đồ hành chính, do lúc này Minh Mạng đã đổi thành Lục tỉnh (tỉnh Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Năm 1836, đổi lại tỉnh Phiên An trở thành tỉnh Gia Định (diện tích khoảng 11.560 km2.
Sau Hòa ước 1862, Pháp chia Gia Định làm 3 phủ như cũ: Tân Bình, Tân An, Tây Ninh.
Năm 1867, Pháp đổi tỉnh Gia Định thành tỉnh Sài Gòn, chia làm 7 hạt tham biện (inspection), trong đó có hạt Sài Gòn. Năm 1872, hạt Sài Gòn gồm 2 huyện Bình Dương và Bình Long, thêm huyện Ngãi An tách từ Biên Hòa vô (nguyên thuộc tỉnh Biên Hòa, nay là quận Thủ Đức). Năm 1885, đổi hạt SG thành hạt Gia Định (để phân biệt vời thành phố Sài Gòn).
Năm 1889, bỏ danh xưng hạt (arrondissement), lấy tên tỉnh cho thống nhất. Bấy giờ Nam Bộ có 20 tỉnh, tỉnh Gia Định rộng khoảng 1840km2, gồm 18 tổng với 200 xã.
Năm 1956, cắt Củ Chi cho Bình Dương và Hậu Nghĩa nên chỉ còn rộng 1499km2. Đến sau 1975 thì không còn dùng địa danh Gia Định.
Về cơ bản, địa danh Gia Định trong tiềm thức có thể được hiểu là phần đất bao gồm toàn bộ các quận/huyện Bình Thạnh, Phú Nhuận, Tân Bình, Gò Vấp, Thủ Đức, 12, Hóc Môn, Củ Chi, một phần huyện Đức Hòa (Long An), một phần tỉnh Tây Ninh ngày nay.
GĐ,17/8/2015

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2015

Tiêu Sơn - Quỳnh Như

"Trời xanh cao thẳm mấy tầng khơi
Nỡ để duyên ai luống thiệt thòi"


Cuối thời Lê trung hưng, xuất hiện một danh sĩ tài hoa, tuấn dật, phong nhã, kiến thức uyên thâm, tư chất hơn người,… (nói chung là con nhà người ta) gọi là Phạm Thái. Nhà người ta mà tôi muốn nói đến ở đây là nhà ông Trạch Trung Hầu Phạm Đạt, một võ tướng cao cấp thời Cảnh Hưng hoàng đế nổi lên chống Tây Sơn nhưng thất bại. Nối chí cha, ông ngao du khắp nơi, kết bạn đồng chí hướng, mưu đồ đại sự.

Sau một lần nổi dậy không thành [cùng với Phổ tỉnh thiền sư Trương Quang Ngọc] thì ông bị truy nã, đành cắt tóc vào tu ở chùa Tiêu Sơn (Chính là tác phẩm Tiêu Sơn tráng sĩ của nhà văn Khái Hưng). Vài năm sau, bạn ông là Trương Đăng Thụ cho người đón ông lên Lạng Sơn tính chuyện phù Lê. Ở đây ông quen với Trương Quỳnh Như là em gái của Trương Đăng Thụ. Dưới mắt ông, nàng là một người con gái:

“Xuân hoa bậc ấy đang vừa,
Tuổi vừa đôi tám, phong tư lạ lùng.
Thước tầm phỏng dạng bằng ông,
Lam pha mày liễu, mỡ đông da gà.
Chiều cá nhảy, vẻ nhạn sa,
Mắt long lanh nguyệt, thức rà rà mây.
Má hồng môi thắm hây hây…
Khổ mê thược dược, thức say hải đường”

“Trai anh hùng, gái thuyền quyên”, họ cùng nhau xướng họa thơ văn rồi phải lòng nhau. Cha của nàng yêu mến tài năng và đức độ nên có ý bằng lòng nhưng mẹ nàng lại muốn gã cho một người khác “môn đăng hộ đối”. Quá đau khổ, nàng mang tâm bệnh rồi mất (có một số lại nói rằng nàng tự vẫn). Đây là một trong những thiên tình sử nổi tiếng nhất của nền văn học sử Việt Nam.

Sau khi chứng kiến cái chết của nàng Quỳnh Như, ông quá đau xót, bỏ đi lang bạt khắp nơi. Quảng đời còn lại của ông chìm trong những trận say li bì, và những vần thơ bi quan, yếm thế. Ông mất lúc 36 tuổi (năm Quý Dậu 1813). Đúng 180 năm sau (tức vừa 3 hoa giáp), một người tên gọi Phạm Tấn Trí ra đời ở vùng đất Gò Đen vốn nổi danh lò rượu.

Hai câu thơ đầu là mở đầu trong bài thơ “Khóc Trương Quỳnh Như (bài 1)” của ông:

“Trời xanh cao thẳm mấy tầng khơi,
Nỡ để duyên ai luống thiệt thòi!
Buồn đốt lò vàng hương nhạt khói,
Sầu châm chén ngọc rượu không hơi.
Lầu tây nguyệt gác mây lồng bóng,
Ải bắc hồng sang bể tuyệt vời.
Một mối chung tình tan mấy mảnh,
Suối vàng, ai nhắn hộ đôi lời!”

Tích về chuyện tình Phạm Thái – Trương Quỳnh Như được Cung Tiến nhắc đến trong bài hát Hương xưa của ông:

“Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa, cùng Nguyệt Cầm vẫn thương Cô Tô. Nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ tiếng đàn đợi chờ mơ hồ. Vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó…”

Dù thích Tuấn Ngọc thật nhưng bài này phải nghe Trần Đức hoặc Sĩ Phú hát thì mới phiêu diêu. Mời nghe nhạc:

https://www.youtube.com/watch?v=D0RW9uZve5U


GĐ,09/10/2015

Địa danh Gò Đen

    Địa danh Gò Đen, hiện nay vẫn chưa xác định rõ về nguồn gốc và thời gian ra đời. Xem trên bản đồ năm 1878 thì rõ ràng đã có địa danh Gò Đen, như vậy thì chắc chắn Gò Đen đã là tên gọi trễ nhất là từ thế kỷ XIX. Về nguồn gốc thì tôi nghe qua 3 tích sau đây:
  • Vùng này trước kia người ta nuôi vịt nhiều. Đêm đến, người nuôi vịt đốt đèn trên gò cao để canh vịt; người qua đường thấy có ánh sáng lấp lánh gọi đó là Gò Đêm, lâu ngày đọc trại thành Gò Đen.
  • Vùng này có truyền thống nấu rượu lâu đời. Thời thuộc Pháp, người Pháp cấm nấu rượu đế; người dân phải lén lên gò cao, nơi có những lùm cây rậm rạp, tối tăm để nấu rượu. Do nấu lâu này, gò đất bị cháy đen, từ đó mọi người gọi vùng này là Gò Đen.
  • Vua Gia Long tẩu quốc đến vùng này thì trời đã sẫm tối. Nhìn xa xa phía gò đất cao cao thì do trời lại tối nên gọi Gò Đen, sau đó ông đi thêm đến một gò khác thì nghỉ chân, chỗ đó nay gọi Gò Vua (thuộc xã Tân Bửu, huyện Bến Lức).

    Tôi nghiêng về giả thiết thứ nhất vì xem trên bản đồ Nam Kỳ trước năm 1878 (có các bản đồ những năm 1861, 1863, 1868) toàn sử dụng tên “GoDem” và đúng là vùng này ngày xưa nuôi rất nhiều gà vịt mà bằng chứng là ngày nay ở Bình Chánh vẫn còn một trạm kiểm dịch và địa điểm họp chợ đêm gà vịt ngày xưa nay là một cây xăng.


    Tên gọi Gò Đen chính thức là một địa danh hành chính vào ngày 04/02/1947 khi quận Trung Quận (hay còn gọi quận Trung Ương) đổi tên thành quận Gò Đen thuộc tỉnh Chợ Lớn (do quận lỵ dời về thị tứ mang tên Gò Đen, vốn thuộc địa bàn làng Phước Lợi, nay có thể là Ủy ban nhân dân xã Phước Lợi).


    Lưu ý, cần phân biệt tỉnh Chợ Lớn là một đơn vị hành chính riêng biệt so với thành phố Chợ Lớn. Tỉnh Chợ Lớn bao gồm 4 quận: Trung Quận, Cần Đước, Cần Giuộc và Đức Hòa; còn thành phố Chợ Lớn là địa danh mà chúng ta vẫn thường gọi (nơi có chợ Bình Tây, là toàn bộ quận 5 và quận 6, một phần quận 8, quận 10 và quận 11).

    Quận Gò Đen (quận Trung Quận trước đó) gồm bốn tổng: Tân Phong Hạ, Long Hưng Thượng, Long Hưng Trung và Long Hưng Hạ. Quận lỵ: Chợ Lớn (thành phố Chợ Lớn).

    Ngày 8 tháng 4 năm 1957, ba tổng: Tân Phong Hạ, Long Hưng Thượng và Long Hưng Trung thuộc quận Gò Đen của tỉnh Chợ Lớn giải thể được sáp nhập vào tỉnh Gia Định, lập nên quận Bình Chánh mới. Riêng tổng Long Hưng Hạ thuộc quận Gò Đen, nhập vào quận Bến Lức mới lập của tỉnh Long An. Như vậy cũng từ năm 1957, quận Gò Đen chính thức bị giải thể.

    Như vậy, địa danh Gò Đen chỉ tồn tại chính thức trong khoảng hơn 10 năm, với diện tích lớn nhất vào khoảng 100 cây số vuông (Tôi dựa vào số liệu về diện tích của 4 tổng trong sách De Saigon à HoChiMinh Ville 300 ans d’histoire của cụ Nguyễn Đình Đầu), khi ấy nó áng chừng bao gồm: 

  • Quận 8: phường 1, 2, 3, 4 , 5, 6, 7, 8, 9.
  • Huyện Bình Chánh: toàn bộ các xã Bình Hưng, Phong Phú, Đa Phước, Tân Kiên, Tân Nhựt, Tân Túc, Bình Chánh; một phần các xã Lê Minh Xuân, một phần các phường Tân Tạo, An Lạc.
  • Huyện Bến Lức: toàn bộ Thị trấn Bến Lức, xã Phước Lợi, Mỹ Yên, Long Hiệp, Tân Bửu, Thanh Phú, xã An Thạnh, một phần xã Tân Hòa và xã Lương Hòa.
Ngày nay, địa danh Gò Đen chỉ còn là địa danh cửa miệng gọi địa phận của 3 xã: Phước Lợi, Mỹ Yên, Long Hiệp, nổi tiếng có rượu Gò Đen toàn cồn là cồn : ))

P/s: màu xanh là quận Gò Đen xưa, còn phần màu đó là địa phận 3 xã Phước Lợi, Mỹ Yên, Long Hiệp.

GĐ,22/9/2015

Sầu đong càng gạt lại càng đầy

Bánh xe lịch sử xoay tiến, để lại tên tuổi nhiều bực anh hùng lưu danh muôn thuở, và cả những con người bị chính bánh xe ấy vùi lấp không thương tiếc trong guồng quay vô tình của nó. Họ là những kẻ tài cao, đức dày nhưng bất đắc chí, gọi hoa mỹ như trong Phật giáo là “sở cầu bất đắc” (một trong bát khổ của con người). Trương Gia Mô (hiệu là Cúc Nông) có một số phận thê thảm như vậy.



Lưng rùa, mắt lé, cử chỉ rụt rè, không mấy ai tin bên trong con người đó là một tinh thần thanh khiết, một chí khí hạo nhiên ẩn tàng, với bao nhiêu tâm trí dồn cả vào việc nước. Mới ngoài 20 tuổi, ông đã dâng vua bản điều trần, gồm 5 việc

1. Mở rộng trường dạy chữ Pháp ở các tỉnh, dịch sách Pháp và Trung Quốc ra chữ quốc ngữ để tiện phổ biến, nhằm mở mang dân trí.
2. Chấn hưng công nghệ thực nghiệp, mở rộng việc khai hoang, chăm sóc, chữa bệnh cho dân nghèo.
3. Cách chức các quan lại tham nhũng, sàng lọc những viên chức vô dụng trong bộ máy công quyền.
4. Lập nghị viện, mở báo quán để rộng đường dư luận.
5. Chỉnh đốn hương tục, đẩy mạnh việc giáo hóa trong xã hội, ngăn ngừa sự đồi bại.

Không ai nghe, chán nản, ông từ quan, giao du với nhiều người trong cuộc Duy Tân, Minh Tân. Ông cùng Phan Chu Trinh tổ chức, truyền bá việc duy tân, cải cách, và chính ông đã viết thư giới thiệu người thanh niên Nguyễn Ái Quốc vào dạy trường Dục Thanh. Một thời gian, ông bị tù giam ở Khánh Hòa vì liên quan đến vụ đấu tranh chống sưu thuế ở Trung Kỳ.

Những năm cuối đời, ông lại trở vào Nam, phiêu bạt giang hồ, mang theo tâm trạng phẫn uất, có lúc thẫn thờ như điên như dại và ông tìm quên trong men rượu, khói thuốc phiện. Hai câu thơ gói gọn niềm riêng của ông:

“Sầu đong càng gạt lại càng đầy,
Cũng muốn khuây mà khó nỗi khuây!”

Sau rốt, để kết thúc cuộc đời đau khổ của mình, ông chọn núi Sam làm nơi gửi xác, trèo lên đỉnh rồi lao mình xuống tự vẫn. Xác ông vướng vào một tảng đá to rồi tạt qua vắt trên một cành cây, thịt nát xương lìa.

Hay tin, nhiều tờ báo lúc bấy giờ đồng loạt đưa tin với thái độ nể trọng và tiếc thương vô hạn; bạn bè, nhiều trí thức và học giả nổi tiếng như hai cụ Phan, Huỳnh Thúc Kháng, Đông Hồ, … đều làm thơ điếu ông.

Em muốn thăm anh chữa kịp vào
Đi đâu? anh vột trốn tìm sao?
Lánh Tần may có nguồn đào nữa,
Tìm Tống e không mảnh đất nào.
Mây bạc non sông người vắng vẻ,
Chim vàng đưa gió bạn lao xao.
Giang Nam còn phú kìa ai nhớ,
Máu quốc đầu gành mấy đoạn đau.  
(Sào Nam Phan Bội Châu)

Đành yên một giấc nghìn thu, Châu Đốc há rằng quê quán khách,
Trót hẹn chiếc thân bốn bể, Việt Nam đâu cũng nước non nhà.
Non Sam muốn hỏi người xưa, mây nước chạnh đau lòng hậu bối;
Thành Trúc qua thăm dấu cũ, cỏ cây còn nhớ khách cao hiền.
(Thi sĩ Đông Hồ)

Ông sáng tác khá nhiều, nhưng trước khi tự vẫn, ông đã cho chôn tất cả vào một nơi gọi là Cúc Nông thư trũng (mồ chôn sách của Cúc Nông), này chỉ còn độ 35 bài thơ chữ Hán, 10 bài thơ chữ Nôm.

Những nơi ông đi qua như Long An, Bình Thuận, Huế, … đều có những con đường mang tên ông. Đặc biệt, dưới chân núi Sam, có một trường THCS mang tên ông: Trương Gia Mô.

GĐ,10/10/2015